Tìm kiếm Blog này

1. NHẬN ĐẶT NEM CHUA - NEM THÍNH ĐẶC SẢN XỨ THANH

Nhận đặt phân phối NEM tại 3 Miền Bắc - Trung - Nam

3. NHẬN ĐẶT HÀNG ONLINE KHU VỰC MIỀN BẮC

ĐỊA CHỈ: Số 93 Trần Phú, P. Ba Đình, TX. Bỉm Sơn, Thanh Hóa LIÊN HỆ: 0935.156.445

4. HƯỚNG DẪN LÀM NEM CHUA

NHẬN ĐẶT HÀNG ONLINE

5. CAM KẾT HOÀN TIỀN 100% LỖI DO SẢN PHẨM

LIÊN HỆ NGAY KHI PHÁT HIỆN LỖI DO SẢN PHẨM.

Hiển thị các bài đăng có nhãn ẨM THỰC XỨ THANH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẨM THỰC XỨ THANH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

Rượu Trắng - Thanh Hóa

Cơ sở sản xuất rượu nếp - Chi Nê xin giới thiệu loại rượu nếp trắng thơm ngon, đặc sản của Miền Bắc. Thích hợp dùng để ngâm các loại thuốc quý, nhân sâm, rắn, các loại động vật và đặc sản khác…
1. Gạo để làm rượu.
– Rượu nếp trắng được lên men hoàn toàn từ gạo nếp. Gạo nếp được dùng làm rượu phải là nếp cái hoa vàng vẫn còn nguyên lớp vỏ lụa và lớp cám nên rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là protein, lipid, các nguyên tố vi lượng và vitamin (nhất là vitamin B1). Ngoài tác dụng bồi bổ cơ thể, rượu nếp còn giúp ăn ngon miệng, kích thích tiêu hóa.
Gạo để làm rượu là loại gạo nếp cái hoa vàng được trồng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
2. Men rượu
Men sử dụng làm rượu nếp cũng được làm từ 32 vị thuốc bắc cùng với tinh bột của gạo nếp, hoàn tàn không có hóa chất hay chất phụ gia để đảm bảo tính an toàn và em dịu cho rượu.
3. Cách chế biến.
Để cho ra được những giọt rượu nếp thơm ngon quả thực không hề đơn giản chút nào, nó đòi hòi phải có sự công phu và chau chuốt. Gạo nếp sau khi được nấu chín, làm nguội thì rắc bột men và đem đi ủ. Trong quá trính ủ nấm mốc phát triển trên cơm gạo nếp và tự tạo cho khối gạo ủ mùi thơm đặc trưng, hấp dẫn. Đặc biệt để có được rượu nếp ngon và vẫn giữ được hương thơm, khi chưng cất không sử dụng tháp cao cất cồn mà dùng thiết bị chưng cất rượu để thu hoạch, lúc này rượu nếp đạt khoảng 40-50 độ rượu.
4. Cách trưng cất rượu.
– Ủ rượu khoảng 1 tuần khi ấy cơm nếp đã lên men và sẽ ra nước cốt, chúng ta múc cả cốt cả cái cho vào nồi và tiến hành trưng cất rượu.
– Nồi dùng để nấu rượu thường làm bằng đồng hoặc đất nung là tốt nhất, trưng cất bằng các chất liệu khác rượu sẽ không ngon hoặc có mùi lạ rất khó uống.
– Khi nấu chúng ta lưu ý nồi rượu sôi rồi thì phải giảm bếp cho nhỏ lửa đi để rượu chảy ra từ từ, nếu đun bếp quá to sẽ làm phì rượu khi uống sẽ có mùi khét rất khó uống.
– Nếu bạn ăn cơm rượu nếp thì chỉ để đến khi men ngấu, mặt cơm hơi ướt bóng lên là ăn được (tầm 3 ngày). Nếu làm nhiều thì tốt nhất là cho vào tủ lạnh để ăn dần. Cơm rượu trộn với sữa chua không còn gì tuyệt hơn, tốt cho tiêu hóa, đẹp da, bổ máu. Người suy nhược do hậu sản cách ngày ăn một lòng đỏ trứng đánh với cốt rượu, tốt hơn thang thuốc.
5. Thành phẩm
Rượu sau khi trưng cất được phải có mùi thơm nồng, uống vào thấy êm êm và tê đầu lưỡi, các bạn không nên uống rượu ngay khi mới ra lò mà nên đổ vào chum sành để khoảng 1-2 tháng rồi mới uống, về cơ bản rượu càng để lâu uống càng ngon. Rượu sau khi nấu được rót vào chum sành đậy kín nắp sau đó hạ thổ từ 1-2 năm để lượng methanol trong rượu được bóc tách, đồng thời giảm lượng độc tố trong rượu. Chính vì thế khi uống dù say đến đâu cũng không có cảm giác đau đầu.
Nếu bạn muốn thưởng thức rượu nếp cái hoa vàng hay rượu nếp cẩm thơm ngon, rượu nếp trắng để ngâm… bạn có thể liên hệ và đặt rượu với Ông Đường, một trong số rất ít người còn lưu giữ bí quyết và tinh hoa rượu nếp của miền đồng bằng Bắc bộ. Giao hàng miễn phí tận nơi miễn phí, các tỉnh khác bạn có thể liên lạc theo số điện thoại bên dưới để đặt hàng.

– Rượu nếp cái hoa vàng: Giá bán 80,000 đ/ lít (100% nguyên liệu từ gạo nếp cái hoa vàng).– Rượu nếp cẩm: Giá bán 80,000 đ/ lít (100% nguyên liệu từ gạo nếp cẩm)– Rượu nếp trắng: Giá bán 80,000 đ/ lít (100% nguyên liệu từ gạo nếp thơm, thích hợp dùng để ngâm)

HẢI SẢN THANH HÓA

Hải sản là một nguồn quan trọng cung cấp protein trong khẩu phần ăn trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các vùng ven biển. Hải sản là nguồn thực phẩm quan trọng của con người. Hải sản không những có hương vị thơm ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao. Nhiều loại hải sản được dùng làm thực phẩm và được chế biến làm nhiều món ăn, có mùi vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn.

Bánh Đa Minh Châu - Thiệu Hóa

Bước đến đầu làng Minh Châu (xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), chưa nghe tiếng người đã ngửi thấy mùi bánh đa thơm nồng nàn, ai nấy gật gù, đúng là làng nghề nức tiếng trăm năm.
   Ở làng nghề Bánh Đa Minh Châu, không hiếm tìm những hộ gia đình đã theo nghề đến ba bốn đời. Không chỉ là nghề kiếm kế sinh nhai, làm bánh đa còn là một cách giữ gìn truyền thống lâu đời, do vậy mà nhiều người cứ mặc nhiên cha truyền con nối.

Bánh đa được phơi ngoài lề đường. ( Nguồn: Internet )

 được dân làng Minh Châu làm để cung cấp chủ yếu cho các nhà hàng, quán ăn, sau rồi mới đến phục vụ  khắp mọi miền. Tới thăm một gia đình làm bánh đa vào bất cứ mùa nào, bạn cũng dễ dàng bắt gặp cảnh gia chủ đang loay hoay bên thùng bột nước, bàn tay thoăn thoắt quấy bột theo đường tròn. Quang cảnh tất bật chuẩn bị nguyên liệu và nhóm bếp để tráng bánh khiến người ta hay nghĩ đến những ngày trong ký ức, khi bếp lửa còn thắp lên những ấm áp của tuổi thơ.
Dù đây là đặc sản, người dân Thanh Hóa không giấu nghề: “Làm bánh đa không khó nhưng không phải ai cũng làm ra được những chiếc bánh đa chất lượng nhất. Tỷ lệ pha trộn bột và nước là đặc biệt quan trọng. Bánh thơm và mịn là do pha chế nguyên liệu vừa độ.” Nguyên liệu chính của món bánh này là gạo xay thành bột, có nơi còn dùng săn, ngô, đậu xanh,…


banh_da_minh_chau_tram_nam_nuc_tieng2
Người dân Minh Châu đang làm ra những chiếc bánh đa thơm ngon. ( Nguồn: Internet )

Công thức làm bánh đa Minh Châu khi quấy bột xong xuôi, người làm bánh sử dụng gáo múc bột đổ tràn đều lên tấm vải căng sẵn trên miệng nồi nước đang sôi. Rắc thêm mè đen lên trên thật nhanh chóng. Mè đen vừa tốt cho sức khỏe vừa khiến bánh có thêm mùi thơm đặc trưng. Khi bánh chín, nhẹ nhàng dùng nan tre mỏng luôn dưới bánh, gỡ bánh ra và trải lên vỉ tre, đem phơi nắng. Bánh đa đem nướng sẽ dày, thường dùng chung với các món hải sản, tiết canh,… Bánh đa cuốn ướt dày vừa và bánh đa dùng để cuốn nem từ mỏng tanh như tờ giấy. Bánh đa Minh Châu thơm nồng nàn, nướng lên giòn rụm, vàng ruộm, càng ăn càng ngọt vị, bùi bùi. Bánh đa Minh Châu sẽ là món ăn du khách không thể bỏ qua khi đến với Thanh Hóa trong tour du lich ngay 2/9.


banh_da_minh_chau_tram_nam_nuc_tieng3
Những chiếc bánh đa nướng lên vàng ruộm, giòn tan. ( Nguồn: Internet )

Dù làm bánh đa đã 20 hay là 30 năm, hay chỉ mới bắt tay vào nghề, sự tỉ mỉ của những người dân làng Minh Châu cũng khiến người ta cảm nhận được rõ sự yêu nghề và khát khao làm nên những chiếc bánh đa thơm ngon nhất có thể.

CHẢ TÔM THANH HÓA - ĐẶC SẢN XỨ THANH KHÓ QUÊN

Trong số các món ăn độc đáo và khó tìm ở vùng đất Bắc Trung Bộ không thể không kể đến chả tôm, món ăn mà người xứ Thanh đi xa luôn nhắc đến.
Cách làm chả tôm không phức tạp, nhưng đòi hỏi nguyên liệu tươi ngon và bàn tay tỉ mỉ, khéo léo cùng tính kiên trì của người làm. Tôm bột không cần loại to, phải thật tươi, rửa sạch đem hấp hoặc luộc qua để dễ bóc vỏ, bỏ đầu đuôi, chỉ đen ở sống lưng, giã nhỏ. Lưu ý giã nhỏ chứ không xay nhuyễn, để khi thưởng thức vẫn cảm nhận được thịt tôm thơm ngon.
Cần thêm thịt ba chỉ rán vàng rồi băm lẫn với hành khô và bánh phở cắt nhỏ để tạo thành hỗn hợp nhân, nêm gia vị vừa ăn, cho vào chút hạt tiêu tạo vị cay thơm. Để nhân chả có màu vàng đỏ đẹp mắt, khi giã nhân thì cho thêm chút thịt gấc vào, trộn đều.
Phần vỏ ngoài của chả là bánh phở, loại dày và dai vừa phải để khi cuốn không bị rách, cắt đều mỗi miếng có chiều ngang chừng 4 cm, dài 7 cm. Người làm khéo léo rải nhân lên rồi cuốn nhẹ tay nhưng phải chắc, sao cho không bị hở và đều ngang nhau để khi nướng các miếng chả chín đều.
Chả tôm nướng trên bếp than hoa.
Chả được kẹp vào những nẹp tre tươi hoặc xếp lên vỉ nướng, nướng trên lửa than hoa. Khi có khách gọi món thì người bán hàng mới bắt đầu nướng, khách ngồi đợi sẽ thấy cô bán hàng tay quạt bếp tay lật vỉ thoăn thoắt để chả chín đều cả trong lẫn ngoài, và khi bỏ ra đĩa là những miếng chả tôm nóng hổi, lớp vỏ bánh hơi cháy, lấp ló nhân bánh vàng đỏ hấp dẫn, mùi thơm ngào ngạt.
Nước chấm ăn kèm chả tôm cũng phải đủ vị, đu đủ xanh thái mỏng, quả sung thái lát, ớt tươi, tỏi, dấm, đường… làm dưa góp và nước mắm cốt pha loãng. Không thể thiếu rổ rau sống tươi ngon gồm rau diếp, mùi, húng…
Tiết trời se lạnh, quây quần bên bếp than hồng để đợi từng vỉ chả tôm, nghe tiếng mỡ xèo xèo và mùi thơm ngầy ngậy lẫn trong khói thì thật thú vị. Và còn thú vị hơn nữa khi thưởng thức miếng chả tôm nóng giòn, vị tôm bùi bùi nơi đầu lưỡi, vị chua dìu dịu của dưa góp lẫn chút cay cay của ớt tươi cùng rau sống thanh mát, tất cả tạo nên một cảm nhận đặc biệt về món ăn dân dã xứ Thanh, ăn một lần sẽ nhớ mãi.
Món ăn không thể bỏ lỡ khi đến Thanh Hóa.

Nếu có dịp ghé Thanh Hóa, bạn hãy tìm đến các phố Đào Duy Từ, Lê Thị Hoa, Nhà Thờ… để thưởng thức món chả tôm đẹp mắt, ngon miệng này.

BÁNH GAI TỨ TRỤ

Ai đã một lần có dịp thưởng thức bánh gai Tứ Trụ của làng Mía, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân thì không thể quên được hương vị thơm ngon, đặc biệt của món ăn đậm chất dân dã.
Bánh gai làm rất công phu, kỳ công ở tất cả các công đoạn. Đòi hỏi người làm bánh phải khéo léo và tinh tế, có những thao tác phải thành thạo, điêu luyện để tạo nên bí quyết gia truyền làm nên hương vị của bánh thơm ngon.
Quy trình làm bánh gai tuy không khó nhưng khá công phu. Nguyên liệu làm bánh gồm lá gai, gạo nếp (nếp nương hoặc nếp hoa cau) được xay thành bột. Phần không thể thiếu được để chiếc bánh thơm ngon là nhân bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh, dầu chuối, đường và thịt lợn nạc. Bột lá gai, bột nếp, trộn cùng mật mía cho thật kỹ đều rồi ủ trong một đêm. Người thạo nghề nếu thấy mật loãng thường phải đem cô lại và phải để cho mật nguội tự nhiên mới ngâm ủ. Bột được đem vào cối giã sao cho kết dính, hòa thấm vào nhau. Khâu giã bánh góp phần quyết định chất lượng của bánh. Phải trộn thật đều từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên sao cho bột mịn mềm dẻo có màu đen bóng. Đây là công đoạn khó, đòi hỏi phải có kinh nghiệm thực tiễn. Công đoạn này nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến tình trạng  nhão hoặc cứng. Những người làm nghề có kinh nghiệm pha chế mật “non” hoặc “già” còn tùy thuộc vào thời tiết nữa. Những người thợ giàu kinh nghiệm thường lấy mắt để nhận biết. Bột là thành phần chính của bánh, lấy nhân cho vào giữa vê tròn rồi lăn bánh trên mâm đã rải vừng. Làm bánh gai không thể thiếu vừng vì nó tạo cho chiếc bánh thêm ngọt, bùi, béo và dễ bóc. Một chiếc bánh đạt yêu cầu phải mịn và ngon có được vị thơm của lá gai, dầu chuối; dẻo của gạo nếp, vị ngọt của mật mía, bùi của đậu, vị béo ngậy của thịt, mùi thơm thoảng của vừng.
Gói bánh cũng đòi hỏi nghệ thuật!Đó phải là lá chuối khô, già tự nhiên mà không phải là lá chuối đem phơi nắng hoặc hong khô. Lá phải được gói nhiều lượt vừa để tạo mùi thơm đặc trưng, vừa định hình cho chiếc bánh và cũng là cách tốt nhất để bảo vệ bánh được lâu, giữ được hương vị.

Thưởng thức từng miếng bánh gai thơm ngon, bùi ngọt mang hương vị quê hương cùng nhâm nhi tách trà xanh thì có lẽ không gì bằng. Chính cái hương vị quê hương ấy đã trở thành món quà không thể thiếu của du khách khi đến với Thọ Xuân hay về dự hội Lam Kinh.
A